Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

Diễn tập chống khủng bố "Sông Hồng 2-2016

Diễn tập chống khủng bố "Sông Hồng 2-2016"

Mới đây Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Chi đội Công an Biên phòng Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã tổ chức diễn tập chống khủng bố với chủ đề “Sông Hồng 2-2016”...

Trong những năm gần đây, tình hình khủng bố trên thế giới diễn biến hết sức phức tạp, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với lực lượng biên phòng của Việt Nam và Trung Quốc.
Trong đó, tuyến biên giới Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) được xác định là một trong những trọng điểm đấu tranh phòng chống các đối tượng lợi dụng xuất, nhập cảnh trái phép để tiến hành các hoạt động bạo lực khủng bố, ảnh hưởng đến an ninh của hai quốc gia.
Trước tình hình trên, mới đây Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Chi đội Công an Biên phòng Châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã tổ chức diễn tập chống khủng bố với chủ đề "Sông Hồng 2-2016", nhằm xây dựng hoàn thiện các phương án, triển khai luyện tập, đấu tranh với các loại tội phạm qua biên giới, đặc biệt tội phạm bạo lực khủng bố, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống…
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 1.
Đại diện đồn Biên phòng Mường Khương, Lào Cai (Việt Nam) và Trạm kiểm soát biên giới Tân Điếm, Trung Quốc ký kết biên bản hợp tác phòng chống khủng bố qua biên giới.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 2.
Lực lượng Biên phòng hai bên tổ chức tuần tra, truy đuổi, bắt đối tượng trên khủng bố trên sông Hồng.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 3.
Bộ đội Biên phòng Việt Nam áp giải các đối tượng khủng bố.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 4.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 5.
Bộ đội Biên phòng Việt Nam tuần tra mật phục trên biên giới.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 6.
Lực lượng Đồn Biên phòng Trịnh Tượng (Việt Nam) cơ động lực lượng phong tỏa biên giới.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 7.
Bộ đội Biên phòng và Công an tỉnh Lào Cai đánh bắt và khống chế thành công đối tượng khủng bố tại Quốc lộ 70.
Diễn tập chống khủng bố Sông Hồng 2-2016 - Ảnh 8.
Tại vạch phân định cửa khẩu Mường Khương, công an Biên phòng Trung Quốc trao trả đối tượng khủng bố cho phía Việt Nam.

Vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào các thời điểm khó khăn nhất.

Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ và xây dựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn.
Vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Ảnh 1.
Lễ thụ phong Trung tướng Nguyễn Bình - làng Nhơn Hòa Lập, tỉnh Đồng Tháp (7/1948)
Biệt tài về quân sự
Trung tướng Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo (sinh năm 1908 tại thôn An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Sinh ra trong một gia đình nông dân hiếu học và yêu nước, từ nhỏ, ông đã sớm bộc lộ phẩm chất và nhân cách cao cả, một bản lĩnh kiên cường, bất khuất.
Năm 1924, khi vừa tròn 16 tuổi, không cam chịu thân phận làm nô lệ, ông đã tham gia những hoạt động yêu nước, chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và bị truy lùng phải trốn vào Nam hoạt động. Năm 1928, ông gia nhập Quốc dân Đảng, năm 1929, bị bắt và đày ra Côn Đảo.
Được tiếp xúc với những người bạn tù cộng sản, tiếp xúc với chủ nghĩa Mác, ông đã giác ngộ, đã ly khai với Quốc dân đảng, kiên định theo Đảng Cộng sản để thực hiện ước mơ làm cách mạng, đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. 
Chính vì thế ông đã bị các bạn tù Quốc dân đảng đâm hỏng mắt trái nhưng ông đã nói: "Tuy tôi mất một con mắt nhưng tôi lại thấy sáng hơn khi còn hai con mắt".
Năm 1935, mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Ông tiếp tục hoạt động, bí mật xây dựng chiến khu Đông Triều, và lại bị bắt một lần nữa. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp một cách độc lập.
Năm 1943, ông được Trung ương giao phụ trách binh vận mua sắm vũ khí cho cách mạng ở Đông Triều, Hải Phòng, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. 
Nhờ súng đạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng và chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.
Ông chỉ huy nhiều đánh trận lớn như: đồn Bần Yên Nhân, tổ chức đánh cướp tàu Pháp ở Hạ Lý - Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, đánh địch chiếm thị xã Uông Bí,… thu được nhiều lương thực và vũ khí.
Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ. Tháng 4-1945, Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc Bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu (tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gai, Móng Cái và Lạng Sơn).
Tháng 7/1945, ông đem quân đánh chiếm giải phóng thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh), là tỉnh lị duy nhất ở miền Bắc về tay nhân dân trước Cách mạng tháng Tám. Tháng 8/1945, ông dẫn đầu lực lượng từ chiến khu về tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại thành phố Hải Phòng.
Khi thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Sài Gòn, chiến tranh lan rộng ra toàn Nam Bộ, ông được Hồ Chủ tịch tín nhiệm cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ. Với tư cách là phái viên của Trung ương Đảng, tháng 11/1945, tại xã An Phú (huyện Hóc Môn), Nguyễn Bình tổ chức "Hội nghị quân sự Nam Bộ" đầu tiên.
Hội nghị bàn bạc về việc thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ lấy tên chung là Giải phóng quân Nam Bộ, thống nhất biên chế hình thức chi đội, phân chia khu vực hoạt động, đề ra những giải pháp tiến hành chiến tranh du kích. Trong hội nghị này, Nguyễn Bình được bầu làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ.
Do có biệt tài về quân sự, Nguyễn Bình đã giữ được miền Nam trong những "ngày cuồng phong bão tố", bẻ gãy được mũi nhọn tiến công của quân viễn chinh Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bình, các đơn vị bộ đội địa phương được tập hợp lại, chính quy hóa, đi vào nề nếp, đặt mục tiêu đánh Pháp lên trên hết, thống nhất được các nhóm giang hồ kiểu Bình Xuyên.
Một đóng góp nữa của Nguyễn Bình, đó là đào tạo binh chủng tinh nhuệ luồn sâu đánh hiểm, đột nhập vào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là hang ổ của địch, ngày đêm quấy rối, rải truyền đơn, ném lựu đạn, làm cho địch ăn không ngon ngủ không yên.
Dưới sự chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, ông lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông đã góp phần to lớn và việc chỉnh đốn xây dựng chính quyền và củng cố khối đoàn kết toàn dân ở Nam bộ.
Những chiến công buổi đầu của quân dân Nam Bộ được gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể.
Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam.
Vị Trung tướng đầu tiên
Ngày 25/1/1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng. Đây là Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cùng đợt có ông Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng.
Bên cạnh đó, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. 
Lễ thụ phong được tổ chức vào tháng 7/1948 tại làng Nhơn Hòa Lập trên con kênh Dương Văn Dương, Đồng Tháp. Ông trở thành cán bộ quân sự cấp cao thứ hai của Việt Nam, sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Năm 1951, theo yêu cầu của Trung ương ông ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt Nam - Campuchia.
Trong sắc lệnh số 84/SL ngày 24/2/1952 truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Trung tướng Nguyễn Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chu đáo, chi tiết ghi rõ từng thành tích công trạng của ông rất đặc biệt, dài tới 171 chữ vàng:
"Hoạt động cách mạng năm 16 tuổi; Suốt thời gian trước Tổng khởi nghĩa tham gia đánh Nhật, đuổi Pháp đã có công nhiều trong phong trào tranh đấu và khởi nghĩa ở các tỉnh miền duyên hải Bắc Bộ; 
Tổ chức đánh tàu Commanhdant Bourdait, thu vũ khi xây dựng chiến khu Tư; Tháng 8 năm 1945, được lệnh Tổng khởi nghĩa dẫn bộ đội chiếm Hải Phòng, Kiến An, Đồ Sơn, chống thực dân Pháp đổ bộ, đánh chiếm tàu chiến và tàu vận tải của địch; 
Được lệnh vào Nam Bộ, trong khi bộ đội ở đó còn một số ít đang bị hàng vạn quân địch bao vây chặt chẽ, đã kiên quyết sáng suốt xây dựng bộ đội lớn mạnh và chỉ huy chiến đấu đánh thắng quân địch nhiều trận lớn trên các chiến trường Nam Bộ; 
Đã góp phần vào việc chỉnh đốn xây dựng Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ và củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất Nam Bộ".
Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.
Năm 2000, được sự giúp đỡ của Chính phủ Hoàng gia Campuchia, đội công tác của Bộ Quốc Phòng đã tìm được hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình đưa về nước ngày 29/2/2000. Lễ truy điệu hài cốt liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình tổ chức trọng thể theo nghị thức Quân đội và an táng tại nghĩa trang TP Hồ Chí Minh.
Trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu Trung tướng Nguyễn Bình ngày 11/3/2000, Thượng tướng Phạm Văn Trà (Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng lúc đó) đã nêu rõ: 
"Đồng chí Nguyễn Bình là một người Cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Đồng chí đã có những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. 
Tên tuổi Nguyễn Bình luôn luôn gắn liền với chiến khu Đông Triều, chiến khu vùng Duyên hải Bắc Bộ, với Sài Gòn - Chợ Lớn, Đông Nam Bộ và Nam Bộ. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là một tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập noi theo. Công lao và tên tuổi của đồng chí mãi mãi sáng ngời trên Đài Tổ quốc ghi công...".
Những lời vàng tuyên dương công trạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm Huân chương Quân công hạng Nhất đầu tiên của quân đội và danh hiệu Anh hùng quân đội dành cho Trung tướng Nguyễn Bình là những dấu son chói lọi vinh danh tên tuổi và sự nghiệp của ông trên Đài Tổ quốc ghi công.
Ông là người con trung hiếu trí dũng vẹn toàn của dân tộc, là tấm gương sáng tận trung với nước, tận hiếu với dân, suốt một đời xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Tên tuổi và công lao của ông xứng đáng được tôn vinh trên khắp cả nước và lưu danh thơm mãi mãi cho các đời sau.

Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ

Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ

Ngày 27-9, các đơn vị Không quân trong Quân chủng PK-KQ đã đồng loạt tổ chức ban bay cán bộ trên các loại máy bay Su-22, Su-27, Su-30, An-26 và trực thăng. Theo dõi, chỉ đạo các ban bay có đại diện các cơ quan chức năng Quân chủng PK-KQ; lãnh đạo, chỉ huy các Sư đoàn 370, 371, 372, Lữ đoàn 918.

Sau khi thực hiện thành công các chuyến bay trinh sát khí tượng, các đơn vị không quân đã tổ chức quán triệt, giao nhiệm vụ cho các thành phần tham gia thực hiện ban bay chặt chẽ, tỉ mỉ. Tiếp đó, các đơn vị đã tổ chức thực hiện thành công các chuyến bay huấn luyện theo kế hoạch đề ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối.
Kết quả: Trung đoàn 925 (Sư đoàn 372) bay được 8 lần chuyến trên máy bay Su-27; Trung đoàn 929 (Sư đoàn 372) bay được 7 lần chuyến, Trung đoàn 937 (Sư đoàn 370) bay được 5 lần chuyến trên máy bay Su-22; Trung đoàn 930 (Sư đoàn 372) bay được 10 lần chuyến, Trung đoàn 917 (Sư đoàn 370) bay được 17 lần chuyến, Trung đoàn 916 (Sư đoàn 371) bay được 11 lần chuyến trên trực thăng; Trung đoàn 935 (Sư đoàn 370) bay được 9 lần chuyến, Trung đoàn 923 và Trung đoàn 927 (Sư đoàn 371) bay được 16 lần chuyến máy bay Su-30; Lữ đoàn 918 bay được 9 lần chuyến trên máy bay An-26.
Thành công của ban bay cán bộ đã khẳng định trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị, góp phần củng cố niềm tin, xây dựng quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, chỉ tiêu công tác huấn luyện năm 2016.
Sau ban bay cán bộ, các đơn vị tiếp tục tăng cường công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, tổ chức duy trì nền nếp huấn luyện bay, củng cố và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời được giao.
Dưới đây là một số hình ảnh ban bay cán bộ của Trung đoàn không quân 925 (Sư đoàn 372) và Trung đoàn không quân 935 (Sư đoàn 370).
Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ - Ảnh 1.
Trung đoàn 925 tổ chức quán triệt, giao nhiệm vụ trước ban bay.
Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ - Ảnh 2.
Đội ngũ kỹ thuật của Trung đoàn 925 kiểm tra máy bay trước chuyến bay.
Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ - Ảnh 3.
Máy bay Su-30, số hiệu 8541 của Trung đoàn 935, lăn bánh ra đường băng.
Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ - Ảnh 4.
Máy bay Su-30 của Trung đoàn 935 thực hành bay huấn luyện.
Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ - Ảnh 5.
Máy bay Su-27 của Trung đoàn 925 cất cánh bay huấn luyện.
Các đơn vị Không quân tổ chức ban bay cán bộ - Ảnh 6.
Phi công Trung đoàn 925 trao đổi kinh nghiệm sau chuyến bay.

Cơ hội cho Yakhont trên tàu tên lửa Việt Nam

Cơ hội cho Yakhont trên tàu tên lửa Việt Nam

Việc tàu Gepard Việt Nam không được trang bị tên lửa Kalibr đồng thời chấm dứt đồn đoán về việc nâng cấp cho tàu Molniya và điều đó tạo cơ hội cho Yakhont.

Trang tin Chuyên gia chính trị của Nga ngày 25/9 dẫn tuyên bố của chuyên gia hải quân Vasily Dandykin cho biết, việc trang bị tên lửa Kalibr cho chiến hạm Gepard 3.9 phiên bản xuất khẩu là điều không thể.
Lớp tàu này sản xuất cho Hải đội Caspian 2 chiếc gồm Tatarstan và Dagestan, nhưng chỉ có chiếc Dagestan là trang bị hệ thống tên lửa Kalibr. Trong khi đó, tàu lớp Gepard 3.9 xuất khẩu sang Việt Nam thì không được trang bị hệ thống tên lửa hiện đại nhất này.
Cơ hội cho Yakhont trên tàu tên lửa Việt Nam - Ảnh 1.
Tàu tên lửa Molniya Nga trang bị tên lửa Yakhont
Chiếc đầu tiên của loại tàu này là Tatarstan chỉ trang bị tên lửa hành trình diệt hạm Uran, có tầm bắn ngắn hơn (130 km) so với Kalibr (từ 300 đến 2.000 km), chuyên gia Dandykin khẳng định. Theo Sputnik, tuyên bố này cũng đồng nghĩa với các tàu tên lửa Molniya rất khó có thể trang bị hệ thống vũ khí này như truyền thông Nga từng nhiều lần nói đến.
Dù không được trang bị tên lửa Kalibr nhưng cơ hội cho các tàu tên lửa Molniya "lột xác" với vũ sát thủ chống hạm Yakhont là hoàn toàn có thể bởi loại vũ khí này đã được Hải quân Nga trang bị tàu tên lửa Molniya từ cách đây cả chục năm.
Đây thực sự là tin vui với Hải quân Việt Nam, nếu như Nga đã có sẵn phương án thiết kế trang bị tên lửa chống hạm hạng nặng như Yakhont thì sẽ tiết kiệm đáng kể thời gian triển khai dự án chế tạo tàu tên lửa Molniya nếu Việt Nam chấp thuận.
Để tích hợp được tên lửa Yakhont, tàu tên lửa Molniya chỉ cần thay đổi về hệ thống tên lửa và bổ sung thêm một radar dẫn bắn phù hợp đặt trên nóc thượng tầng - đó chắc chắn là một radar rất lớn. Trong khi các hệ thống vũ khí còn lại gồm pháo hạm AK-176M, pháo phòng không AK-630 vẫn như cũ.
Với các tên lửa hạng nặng như Yakhont, các tàu tên lửa cỡ 500 tấn chỉ có thể triển khai tối đa 2 bệ phóng với 8 quả đạn được bố trí theo phương nghiêng. Dù là số lượng tên lửa ít hơn tàu M với hệ thống Kh-35 Uran-E, nhưng bù lại Yakhont đem lại ưu thế lớn cho tàu tên lửa nhỏ.
Đạn tên lửa Yakhont trang bị động cơ phản lực tĩnh dòng thẳng siêu âm cho phép đạt tốc độ Mach 2,5. Với vận tốc cực lớn như vậy, đối phương rất khó phản ứng kịp thời và bị tiêu diệt bởi đầu đạn thuốc nổ mạnh nặng 200 - 250kg.
Theo đánh giá của chuyên gia thế giới, với đầu đạn đó Yakhont có khả năng tiêu diệt tàu chiến cỡ lớn chỉ bằng một phát bắn duy nhất. Tầm bắn của tên lửa này phụ thuộc vào chế độ bay: bay quỹ đạo cao - thấp hỗn hợp cho phép đạt tầm bắn 300 km; bay quỹ đạo thấp - thấp đạt tầm bắn 120 km.

Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua

Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua

Hy vọng trong tương lai, xe tăng T-90MS sẽ có mặt trong biên chế QĐND Việt Nam. Ảnh minh họa.

Với QĐND VN, do kinh tế còn nhiều khó khăn nên trong tương lai, việc mua sắm các xe tăng hiện đại mới chỉ dừng ở một con số khiêm tốn để sử dụng ở những hướng tác chiến trọng yếu.

Từ đỉnh cao chói lọi
Ngày 15/09/1916, chiếc xe tăng đầu tiên trên thế giới nhãn hiệu Mark I của Quân đội Hoàng gia Anh xuất trận tại chiến dịch sông Some miền bắc nước Pháp.
Sự xuất hiện bất ngờ của con "quái vật" bằng thép, miễn nhiễm trước hỏa lực của đối phương, có thể vượt qua những địa hình phức tạp đã làm cho quân Đức rối loạn đội hình, đem lại thắng lợi cho liên quân Anh- Pháp.
Lần xuất hiện đày ấn tượng đó đã làm thay đổi quan điểm của các nhà quân sự và nhiều nước đã bắt tay vào nghiên cứu, chế tạo xe tăng để trang bị cho quân đội của mình.
Cho đến trước Thế chiến II, quân đội hầu hết các cường quốc trên thế giới đều có xe tăng trong biên chế của mình.
Bên cạnh đó, từ những bài học rút ra trong Thế chiến 1 quân đội các nước ít nhiều cũng đã định hình nghệ thuật sử dụng xe tăng trong tác chiến. Tuy nhiên, người Đức với sự ủng hộ nhiệt thành của lãnh tụ tối cao Adolf Hitler đã vượt lên trước một bước, đưa lý thuyết vào ứng dụng trong thực tế.
Họ đã thành lập nhiều sư đoàn, tập đoàn quân xe tăng xung kích và chính lực lượng này đã đóng góp đáng kể vào thắng lợi của họ trong giai đoạn đầu của Thế chiến II.
Trước sức công phá dữ dội của xe tăng phát-xít Đức và phe Trục, nhiều quốc gia và lãnh thổ rộng lớn của các nước khác- trong đó có Liên Xô, Trung Quốc bị chinh phục không mấy khó khăn.
Để đối phó với cơn bão thép ấy, Liên Xô và các nước Đồng Minh khác đã phải "dĩ độc trị độc" bằng cách phát triển lực lượng xe tăng của mình.
Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua - Ảnh 1.
Xe tăng T-34/85 của Hồng quân Liên Xô.
Trong khi Liên Xô có T34 (76, 85), IS 1,2 thì Mỹ có M3 "General Stuart", M3 "Grant/Lee", M4 "Sherman", M24 "Chaffee"; Anh có "Crusader" Mk I, Mk III "Valentine", Mk IV Churchil III, Mk VIII "Kromwell" (A27), A34 "Comet"...
Không chịu kém cạnh, phe Trục cũng không ngừng cải tiến và phát triển xe tăng của mình lên một trình độ cao hơn. Trong đó Đức có Pz V "Panther", Pz VI H1 (E) "Tiger". Ý có L6/40, M11/39, M13/40. Còn người Nhật chế tạo xe tăng Kami có nhiều tính năng vượt trội.
Sẽ là không ngoa nếu như nói Thế chiến II là cuộc chiến của xe tăng mà đỉnh cao là cuộc đấu tăng lớn nhất mọi thời đại tại vòng cung Kursk với sự tham gia của hơn 6.500 chiếc xe tăng (phía Đức là 2.928 chiếc, phía Liên Xô là 3.600 chiếc).
Trận đánh đã làm thay đổi cục diện chiến trường và tương quan lực lượng giữa hai bên, mở ra thời kỳ thất bại của chủ nghĩa phát-xít.
Tiếp đó, trong các chiến dịch phản công của Liên Xô sang phía tây, chiến dịch đổ bộ của Đồng Minh từ Bắc Phi lên châu Âu, chiến dịch Mãn Châu của Hồng quân Liên Xô... xe tăng cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nhiều khi quyết định đến thắng lợi của từng trận đánh cũng như cả chiến dịch.
Được đánh giá cao như vậy nên trong thời kỳ đầu Chiến tranh lạnh, xe tăng vẫn được quan tâm phát triển.
Do chiến tranh đã kết thúc, các nghiên cứu phát triển đi vào chiều sâu hơn, nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ mới được áp dụng... nên đã xuất hiện nhiều loại xe tăng mới có tính năng vượt trội như dòng T-54, T-55 và sau đó là T-72 của Liên Xô; M48, XM60 của Mỹ, AMX của Pháp v.v... với số lượng rất lớn được chế tạo.
Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua - Ảnh 2.
Xe tăng T-72 của Liên Xô.
Song song với phát triển xe tăng, các dòng xe bọc thép cũng được nghiên cứu phát triển nhằm đảm bảo cho bộ binh có thể an toàn cơ động theo kịp xe tăng trên mọi chiến trường, hình thành nên lực lượng bộ binh cơ giới đông đảo kề vai sát cánh cùng xe tăng thực hiện nhiệm vụ.
Có thể coi đây là thời hoàng kim của xe tăng trong tất cả các trường phái nghệ thuật quân sự, cả Đông lẫn Tây, cả chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.
Trở thành "kẻ hết thời"
Những năm cuối thế kỷ XX tình hình thế giới có những thay đổi rất cơ bản. Sự tan rã của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tháo chốt cho cuộc chạy đua vũ trang thời Chiến tranh lạnh.
Nguy cơ chiến tranh toàn cầu - có thể có sự tham gia của vũ khí hạt nhân - giữa NATO do Mỹ cầm đầu với khối Vác-xa-va do Liên Xô lãnh đạo đã bị loại trừ. Nhiều nước trước đây nằm trong quỹ đạo của Liên Xô nay lại ngả về phía Mỹ, tham gia khối NATO.
Những thay đổi lớn lao như vậy buộc tất cả các nhà chiến lưọc quân sự phải xem xét lại mọi vấn đề, từ nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng đến thực hành tiến hành chiến tranh.
Có nhiều quan điểm khác nhau song hầu như đều thống nhất ở một điểm là: chiến tranh nếu có xảy ra sẽ chỉ là những xung đột ở tầm cỡ khu vực, có quy mô nhỏ và trung bình.
Nhận định đó dẫn đến quan điểm chủ đạo là không cần thiết phải tổ chức những đội quân xung kích có xung lực mạnh mẽ như các sư đoàn, tập đoàn quân xe tăng nữa. Với quan điểm này, xe tăng lập tức mất đi ánh hào quang đã được khoác lên mình từ Thế chiến II.
Trong khi đó, sự lên ngôi của không quân, tên lửa tầm xa và các loại vũ khí chống tăng hiện đại lại càng làm cho vai trò của xe tăng bị lu mờ bởi các lý do sau:
Thứ nhất, với sự phát triển của các phương tiện bay và bom đạn thông minh, các loại tên lửa hành trình có thể nhanh chóng làm thay đổi cục diện chiến tranh... bằng cách tiến công từ xa vào các mục tiêu quan trọng, nhanh chóng tiêu diệt chỉ huy, sinh lực và trang bị của đối phương mà không cần đến sự xung trận của xe tăng và bộ binh.
Thứ hai, nếu như trước đây để đánh chiếm một mục tiêu nào đó phải cần đến một lực lượng mạnh, có khả năng đột phá như xe tăng thì nay với sự cơ động của các loại trực thăng (cùng với nó là lực lượng đổ bộ đường không) cho phép đổ quân nhanh chóng xuống mọi địa hình phức tạp để đánh chiếm mục tiêu đó, thậm chí tốc độ còn nhanh hơn.
Thứ ba, trước sự phát triển ồ ạt của xe tăng thời Thế chiến II và thời Chiến tranh lạnh, quân đội các nước cũng đẩy mạnh việc nghiên cứu chế tạo các loại vũ khí chống tăng hiện đại.
Với sự áp dụng ngày càng sâu các tiến bộ khoa học - công nghệ, hiệu quả của các loại vũ khí này cũng ngày một cao. Sức xuyên của một số loại đạn và tên lửa chống tăng có thể lên tới hàng nghìn milimét thép, còn các phương tiện dẫn đường cũng rất phong phú: từ dây dẫn đến laser, vô tuyến...
Một số loại vũ khí này được đặt lên máy bay cường kích chống tăng và trực thăng vũ trang. Chính các loại vũ khí chống tăng này đã thực sự là sát thủ của xe tăng bởi có thể bất ngờ xuất hiện, tiến công từ nóc xe xuống và ngoài tầm quan sát của kíp xe.
Cuộc chiến tranh vùng Vịnh với sự thảm bại của xe tăng Iraq và những thiệt hại của xe tăng Nga khi tiến công thủ phủ Grozny (Chesnia) đã là những dẫn chứng minh họa đày sức nặng cho các nhận định trên.
Tất cả những điều đó đã làm cho một số nhà quân sự đã phải thốt lên: "Xe tăng đã hết thời!".
Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua - Ảnh 3.
Một chiếc xe tăng T-72 của Iraq bị loại khỏi vòng chiến.
Nhưng không đơn giản vậy!
Nghiên cứu một cách toàn diện các cuộc Chiến tranh vùng Vịnh và thực tế một số cuộc chiến tranh gần đây đã buộc người ta phải thay đổi quan niệm đó.
Nhìn lại một cách khách quan tại cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 ta thấy:
Chiến dịch "Bão táp sa mạc" bằng không quân và tên lửa hành trình đã triệt hạ được một bộ phận khá lớn và quan trọng lực lượng của quân đội Iraq như hệ thống thông tin chỉ huy, lực lượng không quân v.v...
Song mục tiêu của cuộc chiến tranh vẫn không đạt được nếu không có cuộc tiến công trên bộ của Quân đoàn VII Hoa Kỳ với lực lượng xe tăng thiết giáp làm xung kích, Sư đoàn bọc thép hạng nhẹ số 6 của Pháp và Sư đoàn thiết giáp số 1 Hoàng gia Anh trên khắp lãnh thổ Iraq.
Hoặc như cuộc xung đột giữa các bên đang diễn ra tại Syria cũng vậy. Cuộc không kích của Nga, Mỹ và Liên quân đã kéo dài hàng năm trời nay với đủ thứ vũ khí thông minh, song kết quả cuộc chiến vẫn rất mịt mờ.
Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS vẫn tồn tại và chống trả mãnh liệt chưa biết đến bao giờ mới kết thúc. Có thể khẳng định cuộc chiến tiêu diệt IS chỉ có thể thành công khi lục quân của nhà nước Syria cùng với lực lượng hỗ trợ phải đánh bật chúng ra khỏi các địa bàn cố thủ và làm chủ toàn bộ lãnh thổ.
Nói tóm lại, các cuộc tiến công bằng không quân dù có mãnh liệt đến đâu cũng không thể hoàn thành được trọn vẹn mục đích của cuộc chiến tranh là đánh chiếm và làm chủ mục tiêu. Và để tiến hành công việc đó không thể không có một lực lượng xung kích có sức mạnh đột phá cao, lại được bảo vệ tốt như xe tăng.
Chính vì những nhận định đó, quan điểm "xe tăng đã hết thời" càng tỏ ra không phù hợp và rất nhiều nước vẫn tiếp tục đánh giá cao vai trò của xe tăng trong chiến tranh hiện đại.
Tất nhiên, để hoàn thành sứ mệnh của mình, hạn chế những tổn thất do đối phương gây ra xe tăng cũng cần phải được hiện đại hóa trên tất cả các phương diện, từ hỏa lực, sức cơ động đến khả năng tự bảo vệ.
Từ đó, các quốc gia đều đã nghiên cứu phát triển và một loạt các loại xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại đã ra đời như T-80, T-90 của Nga, M1 Abrams của Mỹ, Leopard 2 của Đức, Challenger II của Anh, Merkava của Israel...
Về sức mạnh hỏa lực, hầu hết các xe tăng hiện đại đều được trang bị pháo cỡ lớn: 120 mm cho các xe tăng phương Tây và 125 mm đối với xe tăng theo trường phái Nga - Xô. Có thể coi đó là cỡ pháo tối ưu đối với xe tăng vì nếu to quá sẽ ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác.
Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua - Ảnh 4.
Xe tăng T-90MS của Nga.
Tuy nhiên, sức mạnh hỏa lực của xe tăng vẫn được tăng lên đáng kể nhờ các chủng loại đạn mới, trong đó đặc biệt phải nhắc đến đạn xuyên dưới cỡ và tên lửa chống tăng phóng qua nòng pháo. Ngoài ra, hệ thống điều khiển hỏa lực cũng được cải tiến mạnh mẽ nhằm nâng cao xác suất trúng và tốc độ bắn của xe tăng.
Về khả năng cơ động của xe tăng hiện đại cũng đã được nâng lên đáng kể nhờ việc tăng công suất riêng của xe. Với các động cơ hiện đại, có kích thước nhỏ nhưng rất khỏe, cho phép nâng công suất riêng lên xấp xỉ 20 mã lực/ tấn trong khi đó lại hạn chế tăng khối lượng của xe.
Cộng với những cải tiến trong hệ thống điều khiển và cơ cấu treo đã nâng cao đáng kể sức cơ động việt dã của xe tăng.
Tuy nhiên, điểm đặc sắc nhất trong quá trình hiện đại hóa xe tăng hiện nay chính là những sáng chế, cải tiến nhằm nâng cao khả năng tự bảo vệ của xe tăng trước sức công phá của các loại đạn chống tăng của đối phương.
Từ phòng thủ bị động bằng nâng cao chất lượng giáp thép, lắp giáp phản ứng nổ đến các thiết bị bảo vệ chủ động tạo ra một bán cầu an toàn đường kính vài chục mét cho xe tăng như thiết bị Stora của Nga hoặc Trophy của Israel...
Với những tiến bộ này, một số dòng xe tăng gần như "miễn nhiễm" trước mọi loại hỏa lực và thực sự trở thành "quái vật chiến trường" như T-90MS của Nga, các biến thể mới nhất của M1A2 Abrams của Mỹ, Leclerc của Pháp, Leopard 2A6/7 của Đức, Challenger 2 của Anh, Merkava của Israel... đặc biệt là dòng xe tăng T-14 Armata của Nga vừa mới trình làng.
Bên cạnh đó, những thay đổi trong nghệ thuật sử dụng và phương thức tác chiến tăng thiết giáp cùng với những tiến bộ trong tác chiến hiệp đồng quân binh chủng... đã từng bước lấy lại vị thế của xe tăng trên chiến trường.
Chiến tranh hiện đại: Xe tăng vẫn là một thế lực không thể bỏ qua - Ảnh 5.
Xe tăng T-14 Armata.
... và ở Việt Nam
Trong thế trận quốc phòng toàn dân của Việt Nam, xe tăng vẫn được đánh giá là "lực lượng đột kích quan trọng của Lục quân; trong một số trận đánh, chiến dịch có thể cùng với bộ binh giữ vai trò quyết định".
Với đánh giá như vậy, lực lượng xe tăng trong Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn được bảo toàn và có phần phát triển lên một tầm vóc cao hơn.
Bằng chứng rõ ràng nhất cho nhận định này là việc nâng cấp các Trung đoàn xe tăng thuộc các quân khu, quân đoàn trở thành các Lữ đoàn với những bổ sung về nhân sự và trang bị một cách đồng bộ và đầy đủ hơn.
Tuy nhiên, do kinh tế còn nhiều khó khăn nên trong tương lai, việc mua sắm các xe tăng hiện đại mới chỉ dừng ở một con số khiêm tốn để sử dụng ở những hướng tác chiến trọng yếu.
Hướng đi chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam trước mắt vẫn là tiếp tục nâng cấp, cải tiến dòng xe tăng T-54, T-55 lên các chuẩn mới, trong đó chú trọng nâng cấp hệ thống hỏa lực và khả năng tự bảo vệ.
Đây là dòng xe đã được thử thách trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc trước đây, tỏ ra phù hợp với địa hình đa dạng của Việt Nam và đặc điểm thể chất, trình độ người Việt Nam.
Khi được nâng cấp chúng sẽ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tóm lại, trong điều kiện chiến tranh hiện đại - xe tăng vẫn chưa hết thời và vẫn là một thế lực không thể bỏ qua trong quân đội các nước!

Báo Nga nói khác việc tàu Gepard Việt Nam trang bị tên lửa Kalibr

Báo Nga nói khác việc tàu Gepard Việt Nam trang bị tên lửa Kalibr

Mặc dù nguồn tin quân sự Nga khẳng định tàu Gepard mới của Việt Nam được trang bị tên lửa Kalibr, nhưng thông tin mới nhất cũng từ Nga đã phủ nhận điều này.

Trang tin Chuyên gia chính trị của Nga ngày 25/9 dẫn tuyên bố của chuyên gia hải quân Vasily Dandykin cho biết, trong tháng 10/2016, cặp tàu Gepard 3.9 Nga đóng cho Hải quân Việt Nam sẽ tiến hành thử nghiệm tại Biển Đen. Cặp tàu này là phiên bản xuất khẩu của lớp tàu Dự án 11661 thiết kế từ thời Liên Xô và sau này là Nga.
Lớp tàu này sản xuất cho Hải đội Caspian 2 chiếc gồm Tatarstan và Dagestan, nhưng chỉ có chiếc Dagestan là trang bị hệ thống tên lửa Kalibr. Trong khi đó, tàu lớp Gepard 3.9 xuất khẩu sang Việt Nam thì không được trang bị hệ thống tên lửa hiện đại nhất này.
Việc trang bị tên lửa Kalibr cho chiến hạm Gepard 3.9 phiên bản xuất khẩu là điều không thể. Chiếc đầu tiên của loại tàu này là Tatarstan chỉ trang bị tên lửa hành trình diệt hạm Uran, có tầm bắn ngắn hơn (130 km) so với Kalibr (từ 300 đến 2.000 km), chuyên gia Dandykin khẳng định.
Báo Nga nói khác việc tàu Gepard Việt Nam trang bị tên lửa Kalibr - Ảnh 1.
Chiến hạm Gepard 3.9 trong Hải quân Việt Nam
Nếu tuyên bố của chuyên gia Dandykin được xác thực thì đâu là sự thật trong những thông tin từng được truyền thông Nga đăng tải rằng tàu Gepard 3.9 mới của Hải quân Việt nam sẽ được trang bị tên lửa Kalibr.
Theo tập đoàn nhà nước Rostex của Nga, không có gì trong mâu thuẫn trong thông tin của ông Dandykin bởi từ cặp tàu Gepard thứ 3 Việt Nam đang đàm phán mua tiếp (với một số cải tiến) mới được trang bị tên lửa hành trình Kalibr-NK.
Thông tin này được nguồn tin chính thức từ Tập đoàn Rostex cho biết: "Tại thời điểm hiện tại, các bên đang thảo luận vấn đề đóng cặp tàu Gepard 3.9 thứ ba tại Zelenodolsk cho Hải quân Việt Nam".
Trước đây, Việt Nam đã đặt mua 2 chiếc tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9, trang bị tên lửa chống hạm cận âm Kh-35 UranE và đã được bàn giao hoàn tất vào năm 2012. Khi về Việt Nam, hai tàu hộ vệ này được đặt theo 2 vị hoàng đế Việt Nam là "Đinh Tiên Hoàng" và "Lý Thái Tổ".
Tàu cũng có khả năng tham gia các hoạt động phi quân sự như chiếu sáng mặt nước và dưới nước, hộ tống thương thuyền, chống đánh cá trộm, chống cướp biển, hỗ trợ tàu bị nạn, cũng như tìm kiếm và cứu nạn trên biển.
Tàu được trang bị pháo, ngư lôi và tên lửa hiện đại, với các loại vũ khí phòng không, chống ngầm, chống ngư lôi và chống đổ bộ, có thể đảm nhận các nhiệm vụ tác chiến hải quân như chống ngầm, đối hạm và phòng không, bảo vệ và tuần tra biên giới lãnh hải của đất nước.
Cụ thể, tàu được trang bị 8 ống phóng tên lửa chống hạm Kh-35 Uran-E, 2 bệ pháo phòng thủ tầm gần 6 nòng 30 mm AK-630, 1 pháo hạm 76 mm AK-176 và một hệ thống phòng không tầm thấp CIWS Palma (2 pháo cao tốc AO-18KD 30 mm và 8 tên lửa phòng không 9M311).
Trong khi đó, ngoài các hệ thống vũ khí cơ bản như 2 chiếc đầu tiên, cặp tàu hộ vệ Gepard 3.9 thứ 2 của Việt Nam đang được thử nghiệm tại Nga sẽ được trang bị hệ thống vũ khí tăng cường khả năng chống ngầm nhờ hệ thống dò tìm sóng âm và các ống phóng ngư lôi mới.
Sau khi 2 tàu Gepard 3.9 này được bàn giao và đưa vào phục vụ, Hải quân Việt Nam sẽ có 4 tàu hộ vệ tên lửa với 2 chiếc chuyên chống hạm và 2 chiếc còn lại có thêm khả năng chống ngầm.
Tuy nhiên, các tàu tên lửa này chỉ có khả năng phòng không điểm với phạm vi tác chiến vẻn vẹn tầm 10 km, không có khả năng phòng không tầm trung và tạo ra một lỗ hổng tác chiến đáng ngại khi phải đối đầu với các máy bay chiến đấu mang tên lửa chống hạm tầm xa của đối phương.
Do đó, trong khi cặp tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 thứ hai (đặt riêng phiên bản chống ngầm) đang được lắp đặt vũ khí tại nhà máy đóng tàu Zelenodolsk, Hải quân Việt Nam và Nga tiếp tục đàm phán để mua thêm tàu tên lửa Gepard 3.9 nâng cấp với hệ thống tên lửa hiện đại hơn - Kalibr-NK.
Cùng với hệ thống tên lửa hành trình Kalibr-NK (phiên bản trên tàu nổi) như các tàu Gepard của Nga và hệ thống tên lửa phòng không trên hạm Shtil-1 (biến thể hải quân của hệ thống tên lửa phòng không tầm trung Buk-M1), tàu Gepard 3.9 sẽ sở hữu nh ững đòn tấn công tầm xa cực mạnh mẽ.
Việc tiến hành đàm phán để mua thêm tàu tên lửa Gepard 3.9, được trang bị các hệ thống vũ khí, tên lửa hiện đại hơn cũng cho thấy, trong tương lai gần, Hải quân Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng quy mô hạm đội và nâng cao sức mạnh chiến đấu của mình.
Việt Nam sẽ lấy nền tảng là lớp tàu chiến Gepard 3.9 của Nga, có khả năng tác chiến đa năng như chống tàu nổi, chống tàu ngầm và phòng không hạm đội, làm lực lượng nòng cốt. Sau đó sẽ tiếp tục nâng cấp sức mạnh với những thế hệ chiến hạm mới hiện đại hơn.